Samuel Smiles, người khai sinh dòng sách 'self-help'
Một thể loại kỳ lạ xuất phát từ Anh đã giúp các nhà xuất bản bán được nhiều sách, dù không hẳn là giúp độc giả.
1859 là năm quan trọng đối với ngành xuất bản của Anh. Đây là năm cuốn “Về nguồn gốc các loài” của Charles Darwin ra đời, cùng với “Bàn về tự do” của John Stuart Mill.
Cùng năm đó, một cuốn sách ít được biết đến của một tác giả tên Samuel Smiles cũng được xuất bản. Cuốn sách này bị đánh giá là nhàm chán, viết dở và bị chỉ trích nặng nề: có người cho rằng những cuốn sách kiểu này là “ngu ngốc nhất từng biết đến”. Tuy nhiên, độc giả lại yêu thích nó. Nó đã bán chạy hơn sách của Darwin, phổ biến một thuật ngữ mới và đồng thời thay đổi ngành xuất bản mãi mãi.
Cuốn sách đó có tên là “Self help - Tự lực ” và mục tiêu của nó rất đơn giản: dạy độc giả rằng “với Ý chí, con người có thể làm được mọi thứ”.
Samuel Smiles sinh ngày 23/12/1812 ở Berwickshire, Scotland. Ngoài tác phẩm giáo huấn nổi tiếng nhất của mình là Self help, ông còn viết các cuốn sách khác cùng dòng là: Nhân cách (1871); Tiết kiệm (1875) và Bổn phận (1880). Những cuốn sách này đều tôn vinh các giá trị cơ bản của thời Victoria ( giai đoạn trong lịch sử Anh từ khoảng năm 1820 đến năm 1914) gắn liền với “phúc âm của công việc”.
Sinh ra trong gia đình có 11 anh em, mồ côi cha từ năm 1832, từ nhỏ Smiles đã học được ý nghĩa của sự tự lập. Tốt nghiệp ngành y tại Edinburgh, nhưng ông đã sớm từ bỏ nghề bác sĩ để theo nghiệp báo chí, chuyển đến Leeds, nơi ông làm biên tập cho Leeds Times - một tờ báo tiến bộ và ủng hộ cải cách, từ năm 1838 đến năm 1842.
Chủ nghĩa cấp tiến mà Samuel Smiles theo đuổi là ứng dụng thực tế từ học thuyết của các nhà triết học thực dụng (“những người cấp tiến triết học”) Jeremy Bentham và James Mill .
Smiles là người ủng hộ nhiệt thành cho sự tiến bộ vật chất dựa trên doanh nghiệp cá nhân và thương mại tự do . Từ năm 1845 đến năm 1866, ông tham gia vào công tác quản lý đường sắt, và năm 1857, ông xuất bản một cuốn tiểu sử về nhà phát minh và người sáng lập ra ngành đường sắt, George Stephenson . Sau đó, ông cho ra mắt cuốn Self-help, là kết quả của loạt bài giảng về sự tự hoàn thiện dành cho những người đàn ông trẻ tuổi ở Leeds.
250.000 bản của cuốn sách đã được bán ra vào cuối thế kỷ và được dịch rộng rãi. Smiles còn viết nhiều cuốn sách khác, bao gồm Cuộc sống của các kỹ sư (3 tập, 1861 – 1862; 5 tập, ấn bản mở rộng, 1874); một nghiên cứu tiên phong về lịch sử kinh tế; và một cuốn Tự truyện (biên tập bởi T. Mackay, 1905).
Ông mất ngày 16/4/1904 tại London (Anh).
Thể loại sách self help phát triển mạnh mẽ bất chấp tranh cãi
Một điều chắc chắn là thể loại sách mà Samuel Smiles đặt nền móng đã giúp bán thêm nhiều sách: năm ngoái, theo số liệu từ Nielsen BookData, 3% tổng số sách bán ra tại Anh là sách self help.
Từ khi con người tồn tại, họ đã cần sự giúp đỡ - và sách luôn cung cấp điều đó. Vào thế kỷ 17, những cuốn sách với chủ đề cụ thể đã xuất hiện với các lời khuyên quan trọng như “Râu có chiều dài đáng sợ” và “Xì mũi”. Đây là một số mô típ đặc trưng của sách self-help đã xuất hiện từ trước khi thuật ngữ này được định hình.
Giống như cuốn sách bán chạy thời hiện đại “Thói quen nguyên tử” của James Clear, giải thích về “Bốn nguyên tắc thay đổi hành vi” giúp người ta duy trì thói quen hàng ngày “Giữ động lực trong cuộc sống và công việc” và tránh những suy nghĩ tiêu cực, một cuốn cẩm nang Thanh giáo thế kỷ 18 khuyến khích độc giả hàng ngày suy ngẫm về cái chết cận kề. Hãy tưởng tượng, nó viết, “hơi thở của ngươi yếu dần, cổ họng ngươi phát ra tiếng lạch cạch, đôi tay ngươi đẫm mồ hôi lạnh”. Điều này chắc chắn giúp giữ động lực, nếu không phải để tránh những suy nghĩ tiêu cực.
Thể loại sách self help thực sự phát triển mạnh mẽ trong cuộc Cách mạng Công nghiệp. Trong thời kỳ trung cổ, con người có thể đánh giá giá trị bản thân qua vị trí của họ trong gia đình hoặc làng xã. Khi dân số thành thị ngày càng tăng, họ nhận thấy mình đang ở trong một “thị trường của bản ngã” nơi con người “mua sắm bạn bè, đối tác kinh doanh và bạn đời”, Joseph Henrich, giáo sư sinh học tiến hóa tại Đại học Harvard, cho biết.
Trong thế giới “cá nhân hóa” này, bạn cần phải trau dồi một cái tôi độc đáo để khiến mình trở nên hấp dẫn hơn đối với người khác. Điều đó đồng nghĩa với việc không chỉ cải thiện bản thân mà còn phải tìm thời gian để làm điều đó. Những người trong giai đoạn này trở nên “ám ảnh với việc sử dụng thời gian hiệu quả”.
Cuốn “Self-help” của Smiles là một ví dụ điển hình. Nó truyền tải một thông điệp vừa giải phóng vừa đè nặng rằng với nỗ lực, “bất kỳ người đàn ông nào cũng có thể làm được những gì người khác đã làm”. Để chứng minh điều này, cuốn sách dài hơn 400 trang kể về những con người đầy kỷ luật, chỉ ngủ 4 tiếng một đêm, làm việc 16 tiếng mỗi ngày, chọn lao động cải thiện bản thân thay vì “cuộc sống trụy lạc” và đạt được thành công đáng ghen tị.
Người đọc sẽ học được cách Galileo sau 50 năm làm việc đã phát minh ra con lắc của mình; cách James Watt nghĩ ra động cơ hơi nước sau chỉ 10 năm; và cách Robert Peel sau khi yêu con gái 7 tuổi của chủ nhà đã tuyên bố rằng sẽ cưới cô bé, đợi mười năm rồi mới làm điều đó. (Có vẻ việc làm quen với trẻ vị thành niên không bị coi là “cuộc sống trụy lạc”.)
Khi thể loại này phát triển, các tuyên bố của nó cũng tăng lên. Một lý do mà sách self help bị coi thường, theo Oliver Burkeman, tác giả của cuốn sách quản lý thời gian “Bốn nghìn tuần”, là vì có rất nhiều thứ “không đáng tin cậy” ngoài kia, từ những ý tưởng thiếu suy nghĩ đến “lừa đảo hoàn toàn”. Một số tiêu đề như “Sống khỏe cả đời” đưa ra những lời khuyên về những điều hiếm khi được coi là vấn đề. Những cuốn khác như “Suy nghĩ và làm giàu” và “Tôi bị viêm ruột thừa và tự chữa khỏi” lại gây ra sự hoài nghi.
Dù những tuyên bố của sách self help có đúng hay không, những cuốn sách này cũng phản ánh những lo âu của con người. Thể loại này là nơi nỗi lo âu được sắp xếp theo bảng chữ cái và số hóa. Nếu tra dưới chữ “A” trong danh sách các sách self-help của Mỹ vào thế kỷ 19 và 20, bạn sẽ thấy có 77 cuốn về “Vị thành niên”, 17 cuốn về “Lão hóa” và 13 cuốn về “Nghiện rượu”. Chữ “L” có các cuốn sách về “Cô đơn” (6 cuốn), “Tình yêu” (63 cuốn) và - đáng ngạc nhiên và có lẽ không liên quan - “Gia súc”.
Đôi khi, danh sách này giống như một bộ phim hài, đôi lúc lại như một bi kịch. Sau cuốn “Khả năng yêu” và “Những cuộc phiêu lưu trong tình trạng khỏa thân” là cuốn sách ảm đạm hơn “Lời khuyên cho người cô đơn, thất vọng và bối rối”.
Những cuốn sách này “phản ánh những nỗi sợ và lo âu” của thời đại, Jessica Lamb-Shapiro, tác giả của cuốn sách về thể loại này, “Vùng đất hứa”, cho biết. Ví dụ, sau cuộc Đại khủng hoảng, các cuốn sách về cách kiếm tiền bùng nổ, dù việc chúng có giúp độc giả thành công hay không vẫn còn là điều không rõ ràng.
Nếu bạn tin Marcus Aurelius, điều đó chẳng mấy quan trọng. Tài sản, tham vọng và thành tựu, ông viết, đều vô nghĩa: chúng ta chỉ ở đây trong chốc lát trước khi bước vào “vực thẳm của sự vĩnh cửu”.
Có lẽ có những cách tốt để dành thời gian hơn là đọc sách self help.
(The Economist)

